BLOGS / SIRIUS STAR
Thứ sáu, 02/04/2010
Lan man âm nhạc 1.4.2010
1. Thời gian thấm thoát, mới đây mà đã 9 năm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời. Cái tên Trịnh Công Sơn quá nổi tiếng đối với người Việt Nam. Ở Việt Nam, có lẽ ngoài John Lennon ra thì Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ được người ta mến mộ đến mức tổ chức những buổi tưởng niệm vào ngày giỗ của họ. Những buổi sinh hoạt văn nghệ tưởng niệm ông hôm nay là những niềm an ủi cho một nhạc sĩ tài hoa trải qua nhiều thăng trầm của cuộc đời.
Có lẽ không cần phải đề cập tại sao Trịnh Công Sơn và các ca khúc của ông lại đi vào lòng người nghe nhạc nhiều thế hệ đến như vậy. Nhiều người chắc cũng biết đến khoảng thời gian đen tối của Trịnh khi những ca khúc của ông không được phổ biến và bản thân ông thì bị “đày” lên vùng xa xôi hẻo lánh. Rồi số phận mỉm cười với ông hơn khi ông”được” trả về lại thành phố cùng những ca khúc dần dần được cấp phép và phổ biến trở lại với người nghe nhạc (dù cho đến bây giờ vẫn còn khá nhiều ca khúc của ông chưa được phổ biến). Khi đó nhạc Trịnh chưa được “sang hóa” như bây giờ, ông phải lê thân đi hát những ca khúc của mình khắp nơi. Trong những ca khúc Trịnh hát, tui thích hai bài “Tôi ơi đừng tuyệt vọng” và “Lặng lẽ nơi này”. Cả 2 bản nhạc đều được sáng tác sau năm 1975. Trịnh hát 2 bản này nhẹ nhàng, tình cảm như chính tính cách của ông nhưng vẫn chất chứa nhiều đắng cay. Lời 2 ca khúc cũng nói rõ những tâm tư đó, tâm tư những người ở lại sau năm 1975. Nhất là những ai biết chuyện của ông có lẽ cũng đều cảm thấy Trịnh hát 2 bản này hay hơn những ca sĩ khác hát. May mà thực tế phần nào cũng diễn ra như câu “em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”. Và cũng an ủi là khi “một mình tôi về với tôi” cũng có rất nhiều người đưa tang ông, trong số đó có cả Khánh Ly về VN (hình như là lần duy nhất).
2. Sự phổ biến của nhạc Trịnh Công Sơn cũng kéo theo một chuyện không hay đó là hiện tượng “sang hóa” các ca khúc nhạc Trịnh như nhắc ở trên. Có một lúc nào đó và thậm chí là đến tận bây giờ, các ca sĩ đều làm cho riêng mình một album nhạc Trịnh như để khẳng định “đẳng cấp” của mình là sang trọng, là “nghệ thuật đích thực” chứ không phải “âm nhạc thị trường” chạy theo số đông. Thế là nhạc Trịnh được đưa lên bàn mổ vặn vẹo thế này thế nọ dưới cái lớp vỏ “hát sáng tạo theo phong cách riêng”. Tính tui nghe nhạc khá bảo thủ nên mọi nỗ lực “sang hóa” nhạc Trịnh như Thanh Lam phô diễn kỹ thuật hoặc Đàm Vĩnh Hưng kỹ thuật không có cũng khoe tài gầm rú hay còn nhiều ca sĩ nữa đều không lọt vào được lỗ tai. Mọi cố gắng làm khác người bằng cách “cách tân” nhạc Trịnh của các bưởi ca sĩ càng đi xa cái tính cách giản dị của Trịnh trong từng nốt nhạc để làm bật lên ca từ đẹp nhưng cũng đầy sâu lắng. Các bưởi đó không nghĩ rằng dù phô diễn kỹ thuật tốt đến cỡ nào mà cảm xúc hay ít nhất là sự cảm nhận của cá nhân người hát đối với những bài nhạc Trịnh mà không có thì có hát kỹ thuật đến mấy thì nó cũng trơ trơ chả ra làm sao.
3. Đối với nhạc Trịnh, người hát nổi tiếng nhất cũng như phù hợp nhất có lẽ là Khánh Ly. Những bài nhạc Trịnh sáng tác trước năm 1975 nói nhiều về chiến tranh cũng như thân phận của những người nhỏ bé giữa cuộc chiến lớn của dân tộc. Ngoại trừ lý do khách quan là kỹ thuật thu âm thời đó của Việt Nam khá kém, kiểu biểu diễn và thu âm accoustic với giọng Khánh Ly hát, Trịnh đệm đàn guitar thùng lại rất phù hợp với tính chất của những ca khúc của ông. Khánh Ly cũng là người của thời cuộc khi đó nên khi hát những ca khúc Trịnh giản dị như tự sự lại được nhiều người đồng cảm và yêu thích. Sau này những nỗ lực hòa âm với những trang thiết bị hiện đại hơn (tất nhiên là trừ những giọng hát phô diễn kỹ thuật quá lố hay những bạn ca sĩ không biết hát) thì nhạc Trịnh mang sắc thái đầy đặn hơn nhưng bản accoustic của Khánh Ly vẫn ở một chỗ riêng. Đơn giản, nó là tiêu biểu cho một thời chiến tranh và sẽ mãi mãi ở đó. Những bài hát Trịnh sáng tác sau năm 1975, Khánh Ly cũng đều hát và thu âm lại, có bài hay bài dở nhưng nhìn chung vẫn rất hợp với nhạc của Trịnh.
Bên cạnh đó, Hồng Nhung có lẽ là ca sĩ hát nhạc Trịnh nổi tiếng kế tiếp sau Khánh Ly. Dù cho nhiều người không thích Hồng Nhung cũng như không thích cả cái giọng của Hồng Nhung hát nhạc Trịnh nhưng tui vẫn nghĩ dù sao cũng nhờ Hồng Nhung mà nhạc Trịnh lại được hát lên cho đến tận ngày nay. Và cũng vì Hồng Nhung mà Trịnh lại tiếp tục có cảm hứng sáng tác thêm nhiều ca khúc mới. Khác với sự tự sự với chất giọng trầm đục nhừa nhựa dễ nghiện của Khánh Ly, HN có chất giọng ngọt ngào tươi trẻ hơn. Do đó ca khúc Trịnh HN hát hay nhất vẫn là bài Thuở bống là người của Trịnh sáng tác riêng cho HN. Hai ca sĩ hát nhạc Trịnh nổi tiếng này cũng đã gặp nhau và song ca bài Nhớ mùa thu Hà Nội, một trong những bài hát hay nhất về Hà Nội.
4. Nhắc đến Khánh Ly cũng phải nhắc đến hai giọng ca vượt thời gian khác mà Tân nhạc Việt Nam may mắn có được là Thái Thanh và Lệ Thu. Thái Thanh mang một chất giọng mang nặng âm hưởng dân ca Bắc bộ rất phù hợp với những ca khúc quê hương của nhạc sĩ Phạm Duy. Còn Lệ Thu nổi tiếng qua những bài tình ca tiền chiến trước năm 1945 và những bản tình ca của nhiều nhạc sĩ chứ không cố định với một nhạc sĩ như Khánh Ly (Trịnh Công Sơn) và Thái Thanh (Phạm Duy). Không hiểu sau này, Tân nhạc Việt Nam liệu có còn những giọng hát nào xứng đáng kế tục 3 giọng hát trên được hay không. Những ca sĩ thế hệ sau cũng còn nhiều giọng hát ấn tượng như Khánh Hà, Thái Hiền, Ý Lan, Trần Thu Hà, Mỹ Linh…nhưng chắc không thể đi riêng được ba con đường như ba ca sĩ kể trên.
5. Trước năm 1994, âm nhạc Việt Nam nở rộ ở hải ngoại là vì hầu hết các nhạc sĩ, ca sĩ tên tuổi bao gồm cả Khánh Ly, Lệ Thu và Thái Thanh đều ở nước ngoài. Kỹ thuật thu âm và kỹ thuật sân khấu tiên tiến khiến cho nhạc Việt hải ngoại có được sức hút từ nhiều người nghe nhạc, kể cả những người ở trong nước (đơn giản vào giai đoạn đó người trong nước chả có cái gì khác mà nghe ngoại trừ nhạc cách mạng). Nó cũng giới thiệu cho người nghe nhạc nhiều ca sĩ đã khá có tiếng trước 1975 như Tuấn Ngọc, Duy Quang, Khánh Hà, Elvis Phương, Vũ Khanh cho đến những giọng ca của hải ngoại như Thái Hiền, Như Quỳnh, Ý Lan, Ngọc Hạ. Trong những năm 1994-2000, âm nhạc trong nước trở nên phát triển rực rỡ với hàng loạt nhiều ca khúc nổi bật của các tác giả như Thanh Tùng, Việt Anh, Trần Quang Lộc, Phú Quang, Quốc Bảo, Anh Quân, Huy Tuấn, Dương Thụ, Bảo Chấn, Bảo Phúc, Phó Đức Phương…và nhất là giai đoạn này âm nhạc hải ngoại có dấu hiệu bão hòa sau mười mấy năm khai thác triệt để những nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Ngô Thuỵ Miên, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Trường Sa, Lê Uyên Phương, Đức Huy…Sau giai đoạn hoàng kim của nhạc Việt (hay phục hưng của nhạc Việt) ở trong nước thì kể từ 10 năm nay là giai đoạn bão hòa dẫn đến thoái trào của nhạc Việt hiện đại. Đây cũng là xu hướng chung khi âm nhạc thế giới cũng đang đi vào giai đoạn thoái trào. Tui có cảm giác là hiện nay ít có ca sĩ nào hát mà đưa được cảm xúc của mình vào bài hát. Họ chỉ hát như cái máy, bài hát nào hay ca sĩ nào cũng vẫn những thứ giọng nhờ nhợ na ná nhau một cách nhàm chán.
6. Trịnh Công Sơn quá nổi tiếng ở trong nước là hoàn toàn hợp lý nhưng nó lại khiến cho tui cảm thấy ngậm ngùi khi nhạc sĩ Phạm Duy lại được quá ít người biết đến trong nước. Tân nhạc Việt Nam phát triển được đến bây giờ là vì may mắn có được hai người nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong những nhạc sĩ Việt Nam là Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Trịnh được biết nhiều bởi loạt ca khúc Da Vàng mang tính phản chiến và phản ánh thân phận con người trong giai đoạn 1960-1975. Trong khi đó, âm nhạc Phạm Duy trải dài qua nhiều giai đoạn kể từ thời Tân nhạc Việt Nam mới hình thành từ khoảng thập niên 1930 cho đến tận bây giờ. Số phận run rủi để cho Phạm Duy chứng kiến được mọi giai đoạn thăng trầm của đất nước Việt Nam nói chung và những giai đoạn phát triển của Tân nhạc Việt Nam nói riêng. Trong mỗi một giai đoạn, ông đều có những tác phẩm có giá trị.
Âm nhạc Phạm Duy cũng mang nhiều phong cách từ âm hưởng dân ca cho đến phong cách hiện đại. Dù là nhạc trữ tình quê hương hay những bài tình ca đôi lứa, nhạc hùng tráng đều mang ca từ đơn giản dễ hiểu giúp người nghe có thể cảm nhận ngay khung cảnh bài hát muốn nói tới. Tiếc thay là cho đến tận ngày mà mà những “Tình hoài hương”, “Ngày trở về” thành hiện thực vào năm 2006-2007, nhiều người vẫn không biết nhiều đến Phạm Duy và các nhạc phẩm của ông, thậm chí có người còn không biết Phạm Duy là ai. Do ít biết về ông nên nhiều người đánh giá sai về Phạm Duy và các nhạc phẩm của ông, nhất là những dư luận về đời tư của ông các làm cho những người không biết có ít nhiều thành kiến với Phạm Duy. Hy vọng rằng trong tương lai người ta sẽ còn biết đến nhiều nhạc phẩm của Phạm Duy hơn nữa. Bởi, những giá trị đích thực như nhạc phẩm Phạm Duy, Trịnh Công Sơn luôn có thể tồn tại qua mọi thời đại.
Có lẽ không cần phải đề cập tại sao Trịnh Công Sơn và các ca khúc của ông lại đi vào lòng người nghe nhạc nhiều thế hệ đến như vậy. Nhiều người chắc cũng biết đến khoảng thời gian đen tối của Trịnh khi những ca khúc của ông không được phổ biến và bản thân ông thì bị “đày” lên vùng xa xôi hẻo lánh. Rồi số phận mỉm cười với ông hơn khi ông”được” trả về lại thành phố cùng những ca khúc dần dần được cấp phép và phổ biến trở lại với người nghe nhạc (dù cho đến bây giờ vẫn còn khá nhiều ca khúc của ông chưa được phổ biến). Khi đó nhạc Trịnh chưa được “sang hóa” như bây giờ, ông phải lê thân đi hát những ca khúc của mình khắp nơi. Trong những ca khúc Trịnh hát, tui thích hai bài “Tôi ơi đừng tuyệt vọng” và “Lặng lẽ nơi này”. Cả 2 bản nhạc đều được sáng tác sau năm 1975. Trịnh hát 2 bản này nhẹ nhàng, tình cảm như chính tính cách của ông nhưng vẫn chất chứa nhiều đắng cay. Lời 2 ca khúc cũng nói rõ những tâm tư đó, tâm tư những người ở lại sau năm 1975. Nhất là những ai biết chuyện của ông có lẽ cũng đều cảm thấy Trịnh hát 2 bản này hay hơn những ca sĩ khác hát. May mà thực tế phần nào cũng diễn ra như câu “em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh”. Và cũng an ủi là khi “một mình tôi về với tôi” cũng có rất nhiều người đưa tang ông, trong số đó có cả Khánh Ly về VN (hình như là lần duy nhất).
2. Sự phổ biến của nhạc Trịnh Công Sơn cũng kéo theo một chuyện không hay đó là hiện tượng “sang hóa” các ca khúc nhạc Trịnh như nhắc ở trên. Có một lúc nào đó và thậm chí là đến tận bây giờ, các ca sĩ đều làm cho riêng mình một album nhạc Trịnh như để khẳng định “đẳng cấp” của mình là sang trọng, là “nghệ thuật đích thực” chứ không phải “âm nhạc thị trường” chạy theo số đông. Thế là nhạc Trịnh được đưa lên bàn mổ vặn vẹo thế này thế nọ dưới cái lớp vỏ “hát sáng tạo theo phong cách riêng”. Tính tui nghe nhạc khá bảo thủ nên mọi nỗ lực “sang hóa” nhạc Trịnh như Thanh Lam phô diễn kỹ thuật hoặc Đàm Vĩnh Hưng kỹ thuật không có cũng khoe tài gầm rú hay còn nhiều ca sĩ nữa đều không lọt vào được lỗ tai. Mọi cố gắng làm khác người bằng cách “cách tân” nhạc Trịnh của các bưởi ca sĩ càng đi xa cái tính cách giản dị của Trịnh trong từng nốt nhạc để làm bật lên ca từ đẹp nhưng cũng đầy sâu lắng. Các bưởi đó không nghĩ rằng dù phô diễn kỹ thuật tốt đến cỡ nào mà cảm xúc hay ít nhất là sự cảm nhận của cá nhân người hát đối với những bài nhạc Trịnh mà không có thì có hát kỹ thuật đến mấy thì nó cũng trơ trơ chả ra làm sao.
3. Đối với nhạc Trịnh, người hát nổi tiếng nhất cũng như phù hợp nhất có lẽ là Khánh Ly. Những bài nhạc Trịnh sáng tác trước năm 1975 nói nhiều về chiến tranh cũng như thân phận của những người nhỏ bé giữa cuộc chiến lớn của dân tộc. Ngoại trừ lý do khách quan là kỹ thuật thu âm thời đó của Việt Nam khá kém, kiểu biểu diễn và thu âm accoustic với giọng Khánh Ly hát, Trịnh đệm đàn guitar thùng lại rất phù hợp với tính chất của những ca khúc của ông. Khánh Ly cũng là người của thời cuộc khi đó nên khi hát những ca khúc Trịnh giản dị như tự sự lại được nhiều người đồng cảm và yêu thích. Sau này những nỗ lực hòa âm với những trang thiết bị hiện đại hơn (tất nhiên là trừ những giọng hát phô diễn kỹ thuật quá lố hay những bạn ca sĩ không biết hát) thì nhạc Trịnh mang sắc thái đầy đặn hơn nhưng bản accoustic của Khánh Ly vẫn ở một chỗ riêng. Đơn giản, nó là tiêu biểu cho một thời chiến tranh và sẽ mãi mãi ở đó. Những bài hát Trịnh sáng tác sau năm 1975, Khánh Ly cũng đều hát và thu âm lại, có bài hay bài dở nhưng nhìn chung vẫn rất hợp với nhạc của Trịnh.
Bên cạnh đó, Hồng Nhung có lẽ là ca sĩ hát nhạc Trịnh nổi tiếng kế tiếp sau Khánh Ly. Dù cho nhiều người không thích Hồng Nhung cũng như không thích cả cái giọng của Hồng Nhung hát nhạc Trịnh nhưng tui vẫn nghĩ dù sao cũng nhờ Hồng Nhung mà nhạc Trịnh lại được hát lên cho đến tận ngày nay. Và cũng vì Hồng Nhung mà Trịnh lại tiếp tục có cảm hứng sáng tác thêm nhiều ca khúc mới. Khác với sự tự sự với chất giọng trầm đục nhừa nhựa dễ nghiện của Khánh Ly, HN có chất giọng ngọt ngào tươi trẻ hơn. Do đó ca khúc Trịnh HN hát hay nhất vẫn là bài Thuở bống là người của Trịnh sáng tác riêng cho HN. Hai ca sĩ hát nhạc Trịnh nổi tiếng này cũng đã gặp nhau và song ca bài Nhớ mùa thu Hà Nội, một trong những bài hát hay nhất về Hà Nội.
4. Nhắc đến Khánh Ly cũng phải nhắc đến hai giọng ca vượt thời gian khác mà Tân nhạc Việt Nam may mắn có được là Thái Thanh và Lệ Thu. Thái Thanh mang một chất giọng mang nặng âm hưởng dân ca Bắc bộ rất phù hợp với những ca khúc quê hương của nhạc sĩ Phạm Duy. Còn Lệ Thu nổi tiếng qua những bài tình ca tiền chiến trước năm 1945 và những bản tình ca của nhiều nhạc sĩ chứ không cố định với một nhạc sĩ như Khánh Ly (Trịnh Công Sơn) và Thái Thanh (Phạm Duy). Không hiểu sau này, Tân nhạc Việt Nam liệu có còn những giọng hát nào xứng đáng kế tục 3 giọng hát trên được hay không. Những ca sĩ thế hệ sau cũng còn nhiều giọng hát ấn tượng như Khánh Hà, Thái Hiền, Ý Lan, Trần Thu Hà, Mỹ Linh…nhưng chắc không thể đi riêng được ba con đường như ba ca sĩ kể trên.
5. Trước năm 1994, âm nhạc Việt Nam nở rộ ở hải ngoại là vì hầu hết các nhạc sĩ, ca sĩ tên tuổi bao gồm cả Khánh Ly, Lệ Thu và Thái Thanh đều ở nước ngoài. Kỹ thuật thu âm và kỹ thuật sân khấu tiên tiến khiến cho nhạc Việt hải ngoại có được sức hút từ nhiều người nghe nhạc, kể cả những người ở trong nước (đơn giản vào giai đoạn đó người trong nước chả có cái gì khác mà nghe ngoại trừ nhạc cách mạng). Nó cũng giới thiệu cho người nghe nhạc nhiều ca sĩ đã khá có tiếng trước 1975 như Tuấn Ngọc, Duy Quang, Khánh Hà, Elvis Phương, Vũ Khanh cho đến những giọng ca của hải ngoại như Thái Hiền, Như Quỳnh, Ý Lan, Ngọc Hạ. Trong những năm 1994-2000, âm nhạc trong nước trở nên phát triển rực rỡ với hàng loạt nhiều ca khúc nổi bật của các tác giả như Thanh Tùng, Việt Anh, Trần Quang Lộc, Phú Quang, Quốc Bảo, Anh Quân, Huy Tuấn, Dương Thụ, Bảo Chấn, Bảo Phúc, Phó Đức Phương…và nhất là giai đoạn này âm nhạc hải ngoại có dấu hiệu bão hòa sau mười mấy năm khai thác triệt để những nhạc phẩm của nhiều nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Ngô Thuỵ Miên, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Trường Sa, Lê Uyên Phương, Đức Huy…Sau giai đoạn hoàng kim của nhạc Việt (hay phục hưng của nhạc Việt) ở trong nước thì kể từ 10 năm nay là giai đoạn bão hòa dẫn đến thoái trào của nhạc Việt hiện đại. Đây cũng là xu hướng chung khi âm nhạc thế giới cũng đang đi vào giai đoạn thoái trào. Tui có cảm giác là hiện nay ít có ca sĩ nào hát mà đưa được cảm xúc của mình vào bài hát. Họ chỉ hát như cái máy, bài hát nào hay ca sĩ nào cũng vẫn những thứ giọng nhờ nhợ na ná nhau một cách nhàm chán.
6. Trịnh Công Sơn quá nổi tiếng ở trong nước là hoàn toàn hợp lý nhưng nó lại khiến cho tui cảm thấy ngậm ngùi khi nhạc sĩ Phạm Duy lại được quá ít người biết đến trong nước. Tân nhạc Việt Nam phát triển được đến bây giờ là vì may mắn có được hai người nhạc sĩ nổi tiếng nhất trong những nhạc sĩ Việt Nam là Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Trịnh được biết nhiều bởi loạt ca khúc Da Vàng mang tính phản chiến và phản ánh thân phận con người trong giai đoạn 1960-1975. Trong khi đó, âm nhạc Phạm Duy trải dài qua nhiều giai đoạn kể từ thời Tân nhạc Việt Nam mới hình thành từ khoảng thập niên 1930 cho đến tận bây giờ. Số phận run rủi để cho Phạm Duy chứng kiến được mọi giai đoạn thăng trầm của đất nước Việt Nam nói chung và những giai đoạn phát triển của Tân nhạc Việt Nam nói riêng. Trong mỗi một giai đoạn, ông đều có những tác phẩm có giá trị.
Âm nhạc Phạm Duy cũng mang nhiều phong cách từ âm hưởng dân ca cho đến phong cách hiện đại. Dù là nhạc trữ tình quê hương hay những bài tình ca đôi lứa, nhạc hùng tráng đều mang ca từ đơn giản dễ hiểu giúp người nghe có thể cảm nhận ngay khung cảnh bài hát muốn nói tới. Tiếc thay là cho đến tận ngày mà mà những “Tình hoài hương”, “Ngày trở về” thành hiện thực vào năm 2006-2007, nhiều người vẫn không biết nhiều đến Phạm Duy và các nhạc phẩm của ông, thậm chí có người còn không biết Phạm Duy là ai. Do ít biết về ông nên nhiều người đánh giá sai về Phạm Duy và các nhạc phẩm của ông, nhất là những dư luận về đời tư của ông các làm cho những người không biết có ít nhiều thành kiến với Phạm Duy. Hy vọng rằng trong tương lai người ta sẽ còn biết đến nhiều nhạc phẩm của Phạm Duy hơn nữa. Bởi, những giá trị đích thực như nhạc phẩm Phạm Duy, Trịnh Công Sơn luôn có thể tồn tại qua mọi thời đại.
http://siriusstar.tumblr.com/post/490263321/lan-man-am-nhac-1-4-2010
các bài viết khác
08 Aug 2011
The Rite
Năm nay là một...
22 Jul 2011
NSƯT Thành Lộc cảm nhận về Xì Trum
Từ bộ truyện...
02 Sep 2010
Dân ta phải biết sử ta / Nếu mà không biết thì tra Gúc Gồ
Đầu...
09 Aug 2010
Vài điều linh tinh Inception
Góp...
05 Aug 2010
Trong lúc chờ đợi review Inception thì ta làm gì? Trong lúc...
24 Jul 2010
Legion - Solomon Kane Sau một mùa World...
02 Jul 2010
Tản mạn trước vòng tứ kết
Nói...
15 Jun 2010
World Cup và Maradona
Thú thật...
12 Jun 2010
Robin Hood
Trước khi xem phim...
09 Jun 2010
The Book of Eli, Shrek 4, Prince of Persia the Book of Eli
...
04 Jun 2010
Ip Man 2 - Diệp Vấn 2: Tông Sư Truyền Kỳ
Phim kungfu...
02 Jun 2010
Có một film festival khác
Đối với...
27 May 2010
Kick-Ass - Get your ass kicked!
Kick-Ass...
15 May 2010
Bi kịch kháng chiến
Chỉ trong vòng...
15 May 2010
Iron Man 2
Bộ phim được...

















